/ ĐỘNG LỰC / Chạy đua cùng với kẻ địch tại Đà Nẵng Marathon?

Chạy đua cùng với kẻ địch tại Đà Nẵng Marathon?

Đà Nẵng Marathon
Đà Nẵng Marathon

Đó là câu hỏi đầu tiên hiện ra trong đầu khi tôi nghe tin Đà Nẵng sẽ đăng cai tổ chức một cuộc thi chạy quốc tế – Đà Nẵng Marathon. Câu hỏi thứ hai là tại sao một cựu chiến binh trong trận chiến ở Việt Nam như tôi lại muốn trở lại?

Lần cuối cùng tôi chạy ở Việt Nam là vào 42 năm trước, và đó không phải là một cuộc đua. Đó là cuộc chạy nước rút vào lúc nửa đêm về boong ke bằng bao cát. Tôi lúc đó đang là cố vấn cho hải quân và lần chạy đó là để né tránh hai súng cối đang đến gần trên một thuyền sông gần Đà Nẵng.

Ba ngày sau cuộc tấn công, tôi đã trở thành thường dân đứng trước cổng căn cứ hải quân Sanpoint ở Seattle. Đó là kết thúc bất ngờ cho giai đoạn đi lính của tôi ở Việt Nam. Tổng thống Nixon đã giữ lời hứa và mang quân đội trở về quê hương.

Nhiều năm trôi qua, tôi vẫn nghĩ về những ngày cuối cùng ở Việt Nam. Lúc nào tôi cũng có cảm giác vì đã phải rời đi quá nhanh nên tôi đã bỏ lại thứ gì đó. Vì lý do đó, tôi đã quyết định trở lại và tham gia giải chạy tại Đà Nẵng.

Đà Nẵng Marathon

Ảnh: www.silverstrider.com.com

Cuộc chạy đua được tổ chức vào ngày 1/9 khi mà nhiệt độ trung bình ở mức 32 độ C. Tôi không hề ảo tưởng là tôi có thể chạy nhanh với điều kiện thời tiết như vậy, vì vậy tôi chỉ đặt mục tiêu vừa phải. Tôi không muốn chạy quá chậm nhưng tôi cũng không muốn gặp những vấn đề về tim. Đồng thời, tôi cũng đã quyết định giữ kín những tháng ngày trong quân đội cũng như quốc tịch Mỹ của mình.

Mùa hè trôi qua nhanh chóng và chẳng mấy chốc tôi đã ngồi trên máy bay đến Đà Nẵng. Máy bay càng đến gần Việt Nam, tôi bắt đầu cảm thấy sự băn khoăn, lo lắng và sợ hãi vô hình mà tôi đã cảm nhận được khi bay vào Sài Gòn năm 1970. Tôi mong rằng lần này mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn.

Máy bay đáp xuống vào tối muộn và khi tôi ra khỏi cabin chính, mọi điều tôi lo sợ bắt đầu xuất hiện. Đứng ngay trước mắt tôi, kiểm tra hành khách xuống máy bay, là một người lính bệ vệ cỡ tuổi tôi. Mắt tôi nhìn ngay vào ngôi sao đỏ trên chiếc nón màu ô liu đậm, rồi đến miếng đeo vai màu đỏ đính đầy sao vàng. Ông ấy đã là kẻ địch. Chúng tôi nhìn nhau đăm đăm. Ông ta có ánh nhìn nghiêm nghị và lạnh lùng làm tôi cảm thấy sợ hãi đến mức tôi nhanh chóng né tránh khi tôi đi ngang qua ông ấy. Những ngờ vực khi quyết định trở lại Việt Nam lại ùa về.

Là người cuối cùng rời khỏi trạm kiểm soát nhập cảnh đêm đó, phải mất một thời gian tôi mới kiếm được taxi, thương lượng phí xe và lên đường về khách sạn. Trên đường về tôi nhìn lướt qua thành phố mà tôi đã bỏ lại 40 năm về trước. Ngay cả trong màn đêm, tôi cũng có thể cảm thấy sự sôi động của thành phố, sống động với những hoạt động từ vô số các quán cà phê vỉa hè và quán nhậu lề đường. Chủ nghĩa tư bản vẫn còn tồn tại. Tất cả những gì cần để bắt đầu kinh doanh là một cái bàn, vài cái ghế, và một mảnh đất. Sau 24 tiếng dài, cuối cùng tôi cũng chạm được chiếc giường và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau tôi thức dậy với âm thanh của thành phố. Tạm quên đêm hôm trước và chuyến bay dài, tôi cảm thấy thoải mái hơn và đến thăm gian hàng triển lãm. Cuộc triển lãm này là cuộc triển lãm nhỏ nhất tôi từng tham dự; chỉ có 6 lều trên biển. Vào lúc đó, tôi là người duy nhất ở đó và tôi thấy hối hận gì đã không mua gì.

Ngoài quy mô nhỏ của cuộc triển lãm ra thì có thể dễ dàng thấy rằng cuộc thi chạy marathon này rất quan trọng đối với chính quyền và người dân Việt Nam.

Đà Nẵng Marathon

Ảnh: www.silverstrider.com.com

Khắp nơi trong thành phố là những bảng quảng cáo, băng rôn và bảng hiệu chào đón “Vận động viên thể thao chuyên nghiệp đến từ 25 quốc gia.” Ngoài ra còn có các nhóm công nhân nhổ cỏ, quét vỉa hè và dọn rửa tường. Họ đang dọn dẹp thành phố trong tâm trạng chờ đón sự viếng thăm của các lãnh đạo cấp cao, bao gồm Sĩ quan, Đại tướng, quan chức địa phương và chính phủ, cũng như tổng lãnh sự quán đến từ Mỹ và Nga.

Sau khi đi dạo vòng quanh thành phố cả ngày, tôi chìm vào giấc ngủ đêm thứ hai ở Đà Nẵng với nhiều cảm xúc lẫn lộn. Tôi thấy phấn khích vì được tham dự cuộc thi marathon quốc tế, mặt khác tôi khá lo lắng về nhiệt độ và độ ẩm mà tôi phải đối mặt, và ngờ vực một cựu chiến binh Mỹ như tôi có thể hòa nhập như thế nào.

Sự lo lắng về việc trở lại Việt Nam lại xuất hiện ngay khi tôi rời khách sạn vào lúc 4:30 sáng để đi bộ đến vạch xuất phát. Tại từng góc phố, khoảng 3 hoặc 4 quân nhân làm công việc của tình nguyện viên, hỗ trợ cho cuộc thi. Mặc dù tôi có hơi không thoải mái đi một mình giữa họ, tôi không cảm thấy sợ hãi như khi gặp người cùng thời với tôi tại sân bay. Sau hai ngày tại đây, nhìn nhận của tôi về người Việt Nam đã dần thay đổi.

10 phút đi bộ đến vạch xuất phát làm tôi toát mồ hôi vì không khí ẩm của trời đêm, nhiệt độ đã gần 27 độ. Có khoảng 300 vận động viên đã ở đó, với khoảng một nửa tham gia chạy marathon 42Km. Tôi nhìn quanh để tìm một khuôn mặt thân thiện nhưng thất bại. Đó thật sự là một đám đông thờ ơ khi tham gia một cuộc đua quốc tế.

Đà Nẵng Marathon

Ảnh: www.silverstrider.com.com

Với nhiệt độ được dự đoán sẽ đạt đến 32 độ kèm với độ ẩm cao, ban tổ chức cuộc đua thông báo nhiều lần rằng chúng tôi có thể lựa chọn dừng lại sau khi hoàn thành nửa đầu của đường chạy. Đó là sự lựa chọn nhiều người rốt cuộc có thể chọn.

Xuất phát cũng giống như hầu hết các cuộc chạy đua marathon khác, các vị lãnh đạo cấp cao tập trung lại; một vài bài diễn văn ngắn được phát biểu, và rồi nổi lên nhạc và cổ động của khán giả, người tham dự bắt đầu chạy.
Điều đáng chú ý đầu tiên sau khi xuất phát đó chính là một số lượng lớn các nhiếp ảnh gia đứng dọc đường chạy. Như những tay săn ảnh, họ ở khắp nơi; ở trạm dừng lấy nước, ngã tư, trên cầu và dọc các bãi biển. Bất chấp sự xuất hiện dày đặc của họ, họ không ở đó để bán cho bạn những bức ảnh. Họ chỉ muốn ghi lại khoảnh khắc đặc biệt trong lịch sử thành phố.

Những đám đông mặc dù có hơi sắp đặt, nhưng đã cổ vũ rất nhiệt tình. Một lời chào thân thiện “Xin chào,” luôn kèm theo là một nụ cười, đã có ý nghĩa rất lớn với tôi khi chạy ngày một khó khăn. Dọc theo lộ trình vang lên những tiếng hô hào từ những quán cà phê vỉa hè, quán nhậu và người chạy xe máy. Cuộc đua đúng nghĩa là đã ngập tràn những nụ cười.

Tôi yêu cách ngập ngừng, gần như là thì thầm “Xin chào” từ những đứa bé nhất. Trong hầu hết các trường hợp, tôi có thể thấy phụ huynh cổ vũ con mình đến gọi chào người nước ngoài. Cha mẹ biết rõ phản ứng mà con họ sẽ nhận được. Câu “Xin chào” sẽ được đáp lại một cách thân mật, và con họ sẽ khúc khích cười, vô cùng rạng rỡ và hãnh diện nhìn cha mẹ.

Trong cuộc đua, tôi đã rất cần những nụ cười ấy. Nhiệt độ nóng bức và độ ẩm cao khiến cuộc đua trở nên tàn bạo từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Ví như tôi có lên kế hoạch giữ tốc độ, nó đã phá sản từ 1.6 km đầu. Đạt mức 5km đầu, tôi đã dùng hết 5 chai nước và mặt trời còn chưa hề mọc.

Đến khi hoàn thành đường chạy, tôi đã dùng hết 50 chai nước mà không hề dùng đến nhà vệ sinh. Tôi đã uống nửa chai và tưới nửa còn lại lên người. Gần như là nước đã bốc hơi ngay khi chạm lưỡi tôi.

May mắn thay, ban tổ chức đã chuẩn bị chu đáo để đối phó với cái nóng và sắp đặt 29 trạm lấy nước. Số người đưa nước ở những trạm dừng đó còn nhiều hơn số người tham dự cuộc đua. Thêm vào đó, xe y tế đi tuần quanh lộ trình và phát nước cho những người chạy khi cần.

Hành trình marathon đầy đủ đơn giản là 2 vòng chạy bắt đầu từ biển Mỹ Khê, lên cầu băng qua sông Hàn, đi thẳng vào trung tâm thành phố, và vòng trở lại cầu để đi dọc theo bãi biển trở về vạch xuất phát. Lộ trình chỉ có đoạn dốc là khi phải chạy lên cầu.

Khán giả của vòng chạy đầu chủ yếu là những nhóm có tổ chức. Cuộc đua gây quỹ từ thiện cho các bệnh viện, vì vậy nên nhân viên của họ, cùng với học sinh, nhân viên chính phủ và quân đội là những đại diện tiêu biểu. Khán giả của vòng chạy thứ hai hầu hết là những cá nhân ra đường để chào mừng ngày Độc lập dân tộc.

Cuộc đua của cá nhân tôi bắt đầu ngay từ lúc xuất phát. Tại mốc 5km tôi đã bắt đầu chạy chậm lại. Đến 8km mặt trời đã bắt đầu mọc và càng ngày tôi càng dừng lại ở những trạm nước lâu hơn. Những bạn trẻ ở trạm dừng cực kỳ thân thiện nhưng nói được rất ít tiếng Anh. Một cô gái bất ngờ bắt đầu nói chuyện với tôi bằng tiếng Nhật. Đến phiên tôi làm cô ấy ngạc nhiên khi tôi đáp lại cũng bằng tiếng Nhật; ngôn ngữ mà tôi có dịp học khi sống ở Tokyo.

Đến khoảng 12.8 km tôi đã từ bỏ mọi nỗ lực để dự đoán thời gian đến đích và bắt đầu chuyển sang đi bộ. Khi tôi đến gần bãi biển gần mốc 14.5 km con đường phủ đầy bóng mát của cây cối. Cây xanh chỉ mang đến cảm giác dễ chịu về tâm lý, bởi chẳng hề có gió thổi vào từ biển.

Đến khoảng nửa đường đua, thật sự rất khó khăn nếu không chấp nhận dừng cuộc đua ở mức bán marathon. Tôi đã muộn 30 phút so với mục tiêu tôi đưa ra và càng ngày chậm hơn nữa. Tôi nhìn thấy vài người chạy đua từ bỏ khi tôi tiếp tục tiến lên phía trước.

Đã có một tràng pháo tay từ khán giả khi tôi tiếp tục chạy vòng thứ hai. Tôi đoán rằng đám đông đã cho rằng một ông già như tôi sẽ từ bỏ. Cảm giác vui sướng từ tràng pháo tay đó lướt nhanh qua khi mà nhiệt độ tiếp tục tăng cao. Một người cùng chạy bảo với tôi nhiệt độ đã lên đến gần 38 độ.

Đám đông tản ra dần ở vòng chạy thứ hai vì những nhóm có tổ chức, cùng với những người săn ảnh, đã đi trốn cái nóng. Những người chạy đua tản ra khi họ tiếp tục chạy trên vỉa hè dưới cái nắng nóng gay gắt.

Đến mốc 25 km, tôi băng qua được cây cầu thứ nhất và đã trên đường trở về trung tâm thành phố. Từ chạy bộ tôi đã chuyển qua chạy chậm bằng những bước nhỏ. Thành phố bây giờ đã thức dậy và những quán cà phê vỉa hè đã đầy khán giả đang thưởng thức trà sang. Tôi nhận ra rằng hầu hết các khán giả đến đó là để uống trà chứ không phải để xem cuộc đua. Nhưng dù sao đi nữa thì những câu “Xin chào” và những nụ cười đến từ khắp nơi đã giúp tôi sao lãng những trở ngại.

Đà Nẵng Marathon

Ảnh: www.silverstrider.com.com

Đến mốc 29 km, tốc độ của tôi còn chậm hơn nữa. Tôi đã chuyển từ chạy chậm bước nhỏ sang đi bộ bước dài. Với tốc độ như vậy, tôi bắt đầu nhìn ngắm thành phố mà tôi đã lỡ mất cơ hội khi chạy khá nhanh ở vòng chạy đầu. Tôi có thể thấy nhiều nơi là tàn dư của căn cứ Mỹ tồn tại từ những năm 1960 và 1970.

Ở nhiều nơi, tôi thấy những dãy tường xi măng đổ vỡ với dây thép gai bao phía trên. Tôi nhận ra đó là những bức tường bao quanh căn cứ rộng lớn của thủy quân và hải quân Mỹ vào thời tôi đi lính. Nó được xây dựng theo Berlin Wall và giờ đây chỉ còn là những mảnh vụn trong thành phố.

Sự vật lộn để tiếp tục đi tiếp càng khó khăn khi tôi gần đến mức 32 km. Vào thời điểm đó, tôi cực kỳ nóng bức, da thì cháy nắng, chân lại phồng rộp, và hoàn toàn kiệt sức. Tôi nhìn quanh quất tìm cách thoát thân và rồi cũng tìm ra. Tôi đưa ra một quyết định then chốt là kết thúc cuộc đua.

Trước măt tôi là một quán cà phê vỉa hè với vài anh bạn trẻ cổ vũ cho tôi. Ở giữa họ là một chiếc ghế trống. Có thể là kiệt sức do nhiệt độ cao; cũng có thể là do tôi tin đây là lúc nên hoàn thành cuộc đua, dù sao đi nữa tôi đã như thấy tên mình trên chiếc ghế đó và ngồi xuống.

Trong 30 giây, tôi đã được các khách trong quán cười đùa vui vẻ mời 3 chai bia. Ngồi ở chiếc bàn gần tôi nhất là hai anh bạn trẻ, độ tuổi cũng như tôi hồi tôi đi lính ở Việt Nam, hỏi tôi từ đâu đến. Khi tôi trả lời “Mỹ”, họ có vẻ bất ngờ, nhưng không hề có thái độ thù địch. Và rồi câu hỏi mà tôi lo sợ cuối cùng cũng đã đến, “Đây có phải lần đầu tiên ông đến Việt Nam không?”. Câu hỏi được đưa ra một cách thân thiện, xuất phát từ sự tò mò, và mặc dù tôi đã phần nào đoán trước được, nhưng tôi chưa bao giờ chuẩn bị câu trả lời. Tôi đã có thể nói một cách dễ dàng rằng đây là lần đầu và để mặc như vậy. Nhưng khi tôi nhìn quanh những người đang lắng nghe câu chuyện, tôi lại ngập ngừng một lát rồi do dự trả lời, “Không,…đây không phải lần đầu. Tôi đã đến đây 42 năm trước và ở gần sông Cửa Đại.”

Đà Nẵng Marathon

Ảnh: www.silverstrider.com.com

Tôi không cần phải nói gì thêm. Mọi người đã biết rõ điều đó có nghĩa là gì. Hai chàng trai có thể thấy sự băn khoăn trong câu trả lời của tôi, và muốn giúp tôi cảm thấy an tâm hơn, họ vui vẻ đáp lại, “Không sao đâu! Đừng lo lắng gì cả”. Tôi không thể để như vậy được. Tôi hối tiếc trả lời, “Chúng tôi lúc ấy còn trẻ, lý tưởng hóa và dễ bị ảnh hưởng. Chúng tôi đã sai lầm khi nghe theo lời những tên lãnh đạo già chỉ muốn đưa chúng tôi ra trận”.

Tôi không rõ liệu hai chàng trai Việt Nam có thể hiểu hết những gì tôi nói không, nhưng họ gật đầu, và trong mắt họ tôi có thể thấy một mối liên kết đã được tạo ra giữa chúng tôi. Đó là cầu nối của hai quốc gia và bốn thập kỉ. Chúng tôi đã trở thành bạn bè.

Hai mươi phút tiếp theo, chúng tôi cùng nhau uống bia, nhìn những người chạy ngang qua, và nói về những thứ thật sự quan trọng trong thế giới ngày nay; bia, thức ăn, và phụ nữ. Trong khoảng thời gian đó, nhiều người dừng lại chỗ tôi, cười, chụp hình, và cố gắng nói tiếng Anh.

Đã đến lúc tôi đứng dậy và hoàn thành cuộc đua, rất khó để rời đi khỏi những người bạn mới của tôi. Trong vòng 20 phút ở quán cà phê vỉa hè đó tôi đã biết được nhiều điều về con người Việt Nam hơn khi tôi chiến đấu với họ cả năm trời.

Tôi đã trở thành một người khác khi tiến ra hoàn thành nốt 9 km còn lại của đường đua. Hai mươi phút nghỉ ngơi đã làm tôi sung sức trở lại, nhưng vẫn còn khá khó khăn để về đích. Tôi đã có thể tập trung hết sức lực đủ để chạy 800m cuối cùng để hoàn thành không chỉ là cuộc chạy đua tuyệt vời mà còn là một hành trình thú vị.

Đà Nẵng Marathon

Sau khi nhận được huy chương và lấy chai nước cuối cùng, tôi đi bộ lại chỗ rào chắn để xem những người khác đang về đích một cách khó khăn. Cách một khoảng xa, tôi nhìn thấy một người Việt đang chạy về. Lúc anh ấy chạy về phía tôi và vạch kết thúc, tôi nhìn anh ấy, rồi nhìn qua đám đông và cuối cùng là những người lính đang dàn hàng ở đích đến. Tôi không hề thấy bất kì một kẻ địch nào cả. Những gì tôi thấy là các đồng minh đang đấu tranh với bản thân để đánh bại cái nóng, sự mệt mỏi và độ dài của cuộc thi marathon Đà Nẵng.

Tôi ở lại đủ lâu để vỗ tay cổ vũ cho những vận động Việt Nam và rồi quay trở lại để về khách sạn. Khi tôi quay lại, tươi cười với tôi là hai người bạn không biết tên từ mốc 32km. Họ đã chạy xe máy trở lại để chúc mừng và nói lời tạm biệt với tôi.

Hai ngày còn lại trong kì nghỉ của tôi ở Việt Nam tiếp tục là một cuộc thám hiểm tuyệt vời. Mọi người mời tôi bia miễn phí, mời tôi vào nhà họ và tiếp đãi tôi. Tôi còn gặp một người lính Bắc cùng thời, ông đã dùng xe máy chở tôi ra bãi biển mà tôi đã chạy lần cuối hồi năm 1971.

Đã đến lúc phải rời Việt Nam, tôi phải ra sân bay vào lúc khuya. Tôi làm thủ tục, qua trạm kiểm soát và lên thang để vào máy bay. Một lần nữa, đứng ở cửa là người lính già làm tôi thấy sợ hãi lúc tôi mới đến. Lần này tôi đã không né tránh khi đi ngang qua ông ấy. Tôi dừng lại, nhìn thẳng vào mắt ông ấy, tươi cười và chào thật to “Xin chào.” Đáp lại, tôi tin rằng tôi đã nhìn thấy một nụ cười toe toét trên khuôn mặt ấy. Với nụ cười ấy, tôi biết cuối cùng tôi có thể rời Việt Nam. Không còn bất kì kẻ địch nào ở nơi này nữa.

Nguồn: TheSilverStrider
Dịch: RUNCLUB.VN

Bình luận

Gửi cho chúng tôi một tin nhắn đây

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>